nam du lich quoc gia
 

TRẢ LỜI Ý KIẾN CÔNG NHÂN, NLĐ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP ĐANG HOẠT ĐỘNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP TAM THĂNG

Thứ sáu - 24/06/2022 08:59
Hỏi: Theo quy định của Bộ luật Lao động, người lao động (NLĐ) bị tai nạn giao thông trên đường đi làm hoặc đi về đúng thời gian và tuyến đường hợp lý. Đề được hưởng chế độ tai nạn lao động (TNLĐ) thì bảo hiểm xã hội (BHXH) yêu cầu phải có giấy xác nhận của Cảnh sát giao thông nhưng khi qua xin xác nhận của Cảnh sát giao thông thì không được xác nhận. Đề xuất cơ quan, ban, ngành tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ hưởng chế độ TNLĐ trong trường hợp nêu trên.
TRẢ LỜI Ý KIẾN CÔNG NHÂN, NLĐ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP ĐANG HOẠT ĐỘNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP TAM THĂNG
Trả lời: Điều 35, Luật An toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 quy định về điều tra TNLĐ: Trường hợp tai nạn trên đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp cho Đoàn điều tra một trong các giấy tờ sau đây:
a) Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn;
b) Biên bản điều tra tai nạn giao thông;
c) Trường hợp không có các giấy tờ quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì phải có văn bản xác nhận bị tai nạn của cơ quan Công an xã, phường, thị trấn nơi xảy ra tai nạn theo đề nghị của NLĐ hoặc thân nhân của người lao động.
Theo quy định tại Thông tư số 28/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều về Luật An toàn, vệ sinh lao động về chế độ đối với người bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, tại phụ lục IV có hướng dẫn Văn bản xác nhận đối với trường hợp không có Biên bản điều tra tai nạn giao thông hoặc Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tại nạn thì xác nhận theo mẫu phụ lục IV, cơ quan xác nhận là Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi xảy ra vụ tai nạn.
Về hồ sơ, thủ tục giải quyết chế độ bảo hiểm TNLĐ: Theo quy định của BHXH Việt Nam tại Quyết định số 222/QĐ-BHXH ngày 25/02/2021 công bố thủ tục hành chính được thay thế, bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của BHXH Việt Nam quy định như sau:
1. Bản chính văn bản đề nghị giải quyết chế độ (mẫu số 05A-HSB) theo quyết định số 166/QĐ-BHXH của BHXH Việt Nam (do đơn vị sử dụng lao động lập).
2. Bản sao Giấy ra viện hoặc trích sao hồ sơ bệnh án sau khi đã điều trị TNLĐ.
3. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa (GĐYK). 
4. Chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng theo quy định về trang cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt (nếu có).
5. Hóa đơn, chứng từ thu phí giám định; bảng kê nội dung giám định của cơ sở GĐYK (đối với trường hợp thanh toán chi phí GĐYK)
Như vậy, hồ sơ cơ quan BHXH quy định về giải quyết bảo hiểm TNLĐ đã tuân thủ đúng theo quy định của Pháp Luật và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không yêu cầu bắt buộc phải có giấy xác nhận của Cảnh sát giao thông như NLĐ nêu ở trên.

Hỏi: Hiện nay nữ công nhân lao động nghỉ sinh, trong thời gian nghỉ thai sản được xét là thời gian tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) nhưng lại không được xét thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Lao động nữ chăm con nhỏ rất túng thiếu, chi phí nhiều, nên BHTN cũng nên xét để công nhân được hưởng quyền lợi về BHTN trong thời gian nghỉ thai sản 06 tháng (hiện nay chế độ này không được tính).
Trả lời: Tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN quy định: Trường hợp NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH, NLĐ tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật thì NLĐ không thuộc đối tượng tham gia BHTN trong thời gian này.
Tại khoản 6 Điều 42 Quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm TNLĐ - bệnh nghề nghiệp; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT ban hành theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy định: NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì đơn vị và NLĐ không phải đóng BHXH, BHTN, bảo hiểm TNLĐ - bệnh nghề nghiệp, thời gian này được tính là thời gian đóng BHXH, không được tính là thời gian đóng BHTN và được cơ quan BHXH đóng BHYT cho NLĐ.
Theo đó, trong thời gian NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con (06 tháng) thì NLĐ không thuộc đối tượng tham gia BHTN và không được tính là thời gian đóng BHTN. Nội dung đề nghị của NLĐ, cơ quan BHXH ghi nhận để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền trong quá trình sửa đổi quy định của pháp luật.

Hỏi: Theo quy định của Bộ luật Lao động, khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải hoàn thành thủ tục xác nhận và trả sổ BHXH cùng những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ của NLĐ. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, công ty cũ không chốt sổ BHXH cho NLĐ hoặc do đang nợ tiền BHXH nên không thể thực hiện thủ tục chốt sổ làm ảnh hưởng đến quyền lợi NLĐ, việc này các cơ quan chức năng nên làm gì để giúp đỡ NLĐ.
Trả lời: Căn cứ khoản 5 Điều 21 Luật BHXH số 58/2014/QH13; Quyết định số 505/QĐ-BHXH về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều Quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp (BNN); quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, quy định Trách nhiệm của người sử dụng lao động:  Phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho NLĐ, xác nhận thời gian đóng BHXH khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật. Đối với đơn vị nợ tiền đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, nếu NLĐ đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc thì đơn vị có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BHTN, bảo hiểm TNLĐ, BNN, bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định, cơ quan BHXH xác nhận sổ BHXH để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho người lao động. 
Như vậy, trường hợp chủ sử dụng lao động không chốt sổ và trả sổ cho NLĐ là vi phạm Luật BHXH. Ngoài ra, trường hợp đơn vị chưa đóng đủ thì cơ quan BHXH sẽ xác nhận sổ BHXH đến thời điểm đã đóng BHXH, BHTN, bảo hiểm TNLĐ, BNN. Sau khi thu hồi được số tiền đơn vị còn nợ thì xác nhận bổ sung trên sổ BHXH.

Hỏi: Trường hợp nhân viên nghỉ không lương quá 14 ngày hoặc nghỉ không lương 01 - 02 tháng với lý do ốm đau hoặc con ốm hoặc tai nạn. Trong thời gian này, công ty báo giảm BHXH; sau đó, họ đi làm lại công ty báo tăng BHXH và đến một thời gian ngắn nữa họ xin nghỉ luôn thì khi giải quyết chế độ thôi việc, công ty có chi trả trợ cấp thất nghiệp trong thời gian họ nghỉ không lương đó không? Áp dụng văn bản quy định nào?
Trả lời: Tại khoản 1 Điều 45 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 quy định: Thời gian đóng BHTN để xét hưởng BHTN là tổng các khoảng thời gian đã đóng BHTN liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng BHTN cho đến khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN quy định: Trường hợp NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH, NLĐ tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật thì NLĐ không thuộc đối tượng tham gia BHTN trong thời gian này.
Theo đó, trong thời gian NLĐ không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHTN của tháng đó, thời gian này không được tính để hưởng BHTN. 

Hỏi: Đối với trường hợp NLĐ nghỉ thai sản do điều kiện kinh tế, cá nhân và công việc xin đi làm sớm thì thời gian đi làm sớm theo quy định tại Thông tư số 59/2015 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì NLĐ phải đóng BHXH, bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm y tế, bảo hiểm TNLĐ và bệnh nghề nghiệp trong thời gian đi làm sớm. Vấn đề này thể hiện sự tận thu của BHXH vì NLĐ không đi làm sớm thì vẫn được hưởng các chế độ trong thời gian đi làm sớm đó. Đề nghị lãnh đạo tỉnh quan tâm cho NLĐ không đóng những khoản trên trong giai đoạn đi làm sớm hơn thời gian nghỉ thai sản.
Trả lời: Căn cứ khoản 2, Điều 12 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 quy định:  “c) Trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh được tính là thời gian đóng BHXH, kể từ thời điểm đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con thì lao động nữ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật BHXH nhưng NLĐ và người sử dụng lao động phải đóng BHXH, BHYT“.
Như vậy, trường hợp NLĐ đi làm sớm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định thì vẫn phải đóng BHXH, BHYT. Đối với đề nghị của NLĐ, cơ quan BHXH xin tiếp thu và sẽ báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phản ánh tâm tư nguyện vọng của NLĐ.

Hỏi: NLĐ khi làm việc đã bị doanh nghiệp trừ phần trăm đóng BHXH, bảo hiểm tự nguyện... Tuy nhiên, một số doanh nghiệp không đóng BHXH cho NLĐ gây ảnh hưởng đến chế độ ốm đau, thai sản... cho NLĐ mà người chịu thiệt lớn nhất là NLĐ, đề nghị lãnh đạo tỉnh:
+ Chỉ đạo BHXH có cơ chế, tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện việc đóng BHXH cho các đối tượng nhận các chế độ từ bảo hiểm xã hội.
+ Chỉ đạo các cơ quan chức năng làm nhanh các thủ tục để NLĐ có đủ điều kiện để khởi kiện chú doanh nghiệp trong thời gian sớm nhất.
Trả lời: Trong thời gian qua, Cơ quan BHXH đã phối hợp với các Sở, Ban, Ngành của tỉnh để hạn chế tối đa vấn đề nợ BHXH, BHYT, BHTN của đơn vị sử dụng lao động để đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Tuy nhiên, vẫn có một số đơn vị vì nhiều lý do khác nhau đã không đóng, trích đóng không kịp thời BHXH, BHYT, BHTN cho NLĐ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ.
Luật BHXH năm 2014 không giao nhiệm vụ khởi kiện đơn vị nợ BHXH cho cơ quan BHXH. Theo điểm d khoản 1 Điều 14 Luật BHXH thì việc khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, tập thể NLĐ theo quy định tại khoản 8 Điều 10 của Luật công đoàn. Liên đoàn Lao động các cấp đại diện người lao dộng khởi kiện Doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BHXH.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây