Hỏi - đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (tiếp theo)

Thứ tư - 07/04/2021 06:50
Hỏi: Tôi là lao động hợp đồng từ năm 2004 đến 2006, đóng BHXH được 3 năm. Sau đó, tôi chuyển về xã. Do là cán bộ không chuyên trách nên tôi không được đóng BHXH. Năm 2009, tỉnh có hỗ trợ đóng BHXH cho người hoạt động không chuyên trách nên tôi được đóng BHXH, tính đến năm 2014 là được 6 năm, sổ BHXH ghi là tự nguyện. Từ năm 2014, khi Luật BHXH có hiệu lực thì người hoạt động không chuyên trách ở xã là đối tượng đóng BHXH bắt buộc. Tháng 10.2021, tôi sẽ đủ 55 năm 4 tháng tuổi. Vậy tôi đóng BHXH được 15 năm và khi đủ 55 tuổi 4 tháng tôi có được lĩnh lương hưu không?

Trả lời: Theo quy định pháp luật về BHXH hiện hành, lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH bắt buộc và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu.

Từ ngày 1.1.2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động được điều chỉnh theo quy định tại Nghị định số 135/2020/NĐ-CP ngày 18.11.2020 của Chính phủ. Theo đó, kể từ năm 2021 tuổi nghỉ hưu đối với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường sẽ được điều chỉnh theo lộ trình mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028 và cứ mỗi năm tăng thêm 4 tháng đối với lao động nữ cho đến đủ 60 tuổi vào năm 2035. Các quy định của chế độ hưu trí gắn với điều kiện về tuổi hưởng lương hưu theo Điều 54, Điều 55, Khoản 1 Điều 73 của Luật BHXH năm 2014 được thực hiện theo tuổi nghỉ hưu và điều kiện về tuổi hưởng lương hưu tại Điều 169, Khoản 1 Điều 219 của Bộ luật Lao động năm 2019 và quy định tại nghị định này.

Đối chiếu quy định trên, trường hợp của bạn tính đến tháng 10.2021 có 15 năm đóng BHXH (bao gồm cả thời gian đóng BHXH tự nguyện) nên chưa đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH bắt buộc để hưởng chế độ hưu trí.

Hỏi: Người lao động bị tai nạn trên đường đi làm về trong thời gian và địa điểm hợp lý; có giấy ra viện và Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH thì có được hưởng chế độ ốm đau không? Người lao động khi đã bình phục, công ty có được làm thủ tục để người lao động đi giám định y khoa và làm thủ tục hưởng chế độ tai nạn lao động nếu có tỷ lệ thương tật từ 5% trở lên?

Trả lời: Điểm c Khoản 1, Khoản 2 Điều 45 Luật An toàn vệ sinh, lao động quy định điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động là bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên khi bị tai nạn trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

Trường hợp người lao động tại đơn vị bị tai nạn giao thông trên đường đi làm về, nếu được đoàn điều tra tai nạn lao động kết luận là tai nạn lao động và được Hội đồng giám định y khoa kết luận suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định nêu trên.

Mặt khác, tại Điểm b Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29.12.2015 của Bộ LĐ-TB&XH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định: Không giải quyết chế độ ốm đau đối với người lao động nghỉ việc điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Do đó, thời gian điều trị tai nạn lao động lần đầu, người lao động tại đơn vị không được giải quyết hưởng chế độ ốm đau.

Trường hợp người lao động bị tai nạn do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn thì người sử dụng lao động ngoài việc trợ cấp cho người lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều 39 Luật An toàn vệ sinh, lao động vẫn phải thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định tại Điều 38 Luật An toàn vệ sinh, lao động bao gồm cả việc giới thiệu để người lao động đi khám giám định y khoa và lập hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động đối với người lao động.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây